Hormone ANP là gì? Tìm hiểu về hormone APN

Việc xét nghiệm peptide lợi niệu (hormone ANP). là một trong những xét nghiệm quan trọng giúp chẩn đoán và hỗ trợ điều trị bệnh tim mạch. Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn hormone ANP là gì thì hãy cùng Kenshin tìm hiểu nhé.

Bạn đang đọc: Hormone ANP là gì? Tìm hiểu về hormone APN

Trong xét nghiệm peptide natri lợi niệu có tên kỹ thuật là Peptide natri lợi niệu tâm nhĩ (ANP), peptide natri lợi niệu não (BNP), peptide lợi niệu nhóm C (CNP). Việc xét nghiệm thường được thực hiện trong phòng cấp cứu, bệnh nhân đang nguy kịch do liên quan đến tim mạch.

Hormone ANP là gì? Tìm hiểu về Peptide lợi niệu

“Hormone ANP là gì?” là vấn đề được nhiều người quan tâm. Theo đó, vào năm 1981 một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra yếu tố thứ ba ở tâm nhĩ của chuột và đặt tên cho chúng là “peptide lợi niệu natri tâm nhĩ”, viết tắt ANP.

Hormone ANP được sản xuất và dự trữ chủ yếu ở tâm nhĩ của tim. Thông thường, khi thể tích dịch trong cơ thể hoặc huyết áp tăng sẽ khiến thành tâm nhĩ kéo căng dẫn đến việc giải phóng ANP vào máu. Tiếp theo đó sẽ làm giảm sự tái hấp thu natri, kéo theo tăng bài xuất natri cùng lượng nước tiểu, từ đó giúp huyết áp giảm xuống mức bình thường.

Năm 1988 nhà nghiên cứu còn tìm ra một peptide lợi niệu thứ hai ở não lợn và đặt tên là “peptide lợi niệu natri não” viết tắt BNP. Sau này còn phát hiện ra BNP sản xuất chủ yếu ở tâm thất. Tương tự như tâm nhĩ, khi bị kéo căng tâm thất sẽ giải phóng BNP – chức năng lợi niệu natri tương tự như ANP.

Vào năm 1990 một peptide lợi niệu nữa được phát hiện trong não lợn và được đặt tên là “peptide lợi niệu natri loại C”, viết tắt CNP. Nhiều người thắc mắc không biết hormone CNP là gì và công dụng ra sao, thì được biết chúng không có chức năng lợi niệu natri trực tiếp mà đóng vai trò như một peptide thần kinh.

Thông thường, bệnh suy tim xảy ra khi tâm thất suy giảm chức năng tống máu. Chúng phải hoạt động vất vả hơn (sợi cơ tâm thất kéo căng) nhưng lại tống ít máu. Do sợi cơ tâm thất kéo căng nên người mắc bệnh tim sẽ tiết ra nhiều BNP hơn.

Ngày nay bệnh suy tim có xu hướng ngày càng tăng theo độ tuổi. Trong đó, tuổi 45 – 54 chiếm 1 – 2% còn đối tượng trên 75 tuổi chiếm 10%. Vì vậy, khi thực hiện các xét nghiệm sinh học ngày nay rất chú trọng đến việc chẩn đoán, theo dõi và điều trị bệnh.

Hormone ANP là gì? Tìm hiểu về Hormone APN 1

Ngày nay bệnh suy tim có xu hướng ngày càng tăng theo độ tuổi

Sau khi tìm hiểu hormone BNP là gì, thì được biết, peptide lợi niệu BNP là một protein do cơ tâm thất tiết ra để đáp ứng tình trạng quá tải về thể tích hoặc áp suất. Ngoài ra, chúng còn có giá trị trong việc chẩn đoán suy tim, sung huyết (CHF) hoặc dự đoán tử vong. Không những vậy, thêm công dụng được khám phá đó là hỗ trợ chữa bệnh thiếu máu cục bộ cơ tim, nhồi máu cơ tim, thuyên tắc phổi cấp tính (PF).

Cơ chế hoạt động của Peptide lợi niệu là gì?

Peptide lợi niệu natri tuýp B (BNP) là một thành viên của họ bốn peptide natri lợi tiểu ở người và có chung cấu trúc vòng 17 peptide. Sau khi đã tìm hiểu hormone ANP là gì, thì được biết chúng như một polipeptit 28 axit amin sinh ra từ đầu tận cùng C của prohormone proANP. Chủ yếu nằm trong tâm nhĩ tim và nhanh chóng tiết ra để đáp ứng sự co giãn tâm nhĩ. Mặc dù ở người bình thường tiết ra lượng ANP rất nhỏ nhưng đối với bệnh nhân bị phì đại thất trái hoặc van hai lá thì mức độ ANP tăng cao.

Peptide lợi niệu sau đó đã được phát hiện có nồng độ cao trong mô tim, nhất là tâm thất. Hai loại peptit lợi tiểu natri loại C (CNP) và peptide lợi tiểu natri DNP cũng hoạt động tương ứng trong hệ mạch ngoại vi và tâm nhĩ.

Peptide lợi niệu trước khi được kích hoạt đã lưu trữ dưới dạng tiền chất polypeptide 108 axit amin, proBNP, ở cả tâm thất và tâm nhĩ nhưng tâm nhĩ thấp hơn. Sau proBNP được tiết ra để đáp ứng tình trạng quá tải khối lượng và kết quả là căng cơ ti, nó được cắt 76 loại peptide, sinh học trơ N đoạn – terminal NT – proBNP, 32 loại peptide, sinh học hoạt tính hormone peptide lợi niệu.

Áp lực làm đầy tâm thất cao sẽ kích thích giải phóng ANP cùng BNP. Hai peptide này đều có tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp, ngoài ra chúng còn có tác dụng ức chế hệ thống renin – angiotensin – aldosterone. Chúng cũng có hoạt động giao cảm toàn thân và tại vị trí thận. Hơn nữa, peptide lợi niệu mang đến khả năng chống lại quá trình tái cấu trúc xơ hoá khi bệnh suy tim tiến triển.

Dù hormone ANP được xác định đầu tiên nhưng theo nghiên cứu cho thấy BNP còn mạnh hơn nhưng đâu là một dấu hiệu khá hữu ích về việc tăng áp lực tâm thất. Khi mức peptide lợi niệu tăng cao là dấu hiệu của tăng áp lực đổ đầy thất trái LV, rối loạn chức năng LV.

Thể thụ peptid lợi tiểu và endopeptidase huyết tương tích cực làm sạch peptide lợi niệu khỏi tuần hoàn, thời gian bán thải trong chúng rất ngắn, khoảng 20 phút. Không thanh thải NT – proBNP qua trung gian và NT – proBNP, có thời gian bán thải kéo dài tương ứng 60 – 120 phút. Kết quả cho thấy nồng độ NT – proBNP trong huyết tương có xu hướng cao gấp 3 – 5 lần nồng độ BNP chủ yếu ở thận. Vì vậy, nồng độ thải qua thận của NT – proBNP làm xáo trộn công dụng chẩn đoán ở bệnh nhân suy thận.

NT – proBNP là một mẫu vật trong phòng thí nghiệm, theo nghiên cứu cho thấy ổn định hơn trong quá trình bảo quản so với peptide lợi niệu. Đặc biệt mẫu này còn phù hợp nhiệt độ phòng trong 72 giờ, ngược lại mẫu peptide lợi niệu sẽ dưới 4 giờ.

Peptide lợi niệu trong việc điều trị bệnh tim

Peptide lợi niệu trong cấp cứu

Nồng độ peptide natri lợi niệu (BNP) được xem là loại B có khả năng dự đoán suy tim chính xác hơn so với việc khám sức khoẻ hay làm các xét nghiệm thông thường. Thử nghiệm mức peptide lợi niệu ≤ 100 pg/mL, độ nhạy 90%, độ đặc hiệu 76% trong việc tách tim ra khỏi các nguyên nhân không do tim gây khó thở. Ngoài ra, NT – proBNP còn được nghiên cứu trong cấp cứu hoặc điều trị ngoại trú, có công dụng chẩn đoán mức độ nghiêm trọng của bệnh hoặc đánh giá nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Peptide lợi niệu trong phân tầng nguy cơ

Một số nghiên cứu cho biết, nồng độ peptide lợi niệu là yếu tố dự báo mạnh nhất để xác định trường hợp tử vong sau đó hoặc nhập viện trong vòng 6 tháng. Đặc biệt, trong một thử nghiệm ở Úc, bệnh nhân suy tim mãn tính và chức năng tâm thu mức NT – proBNP cao hơn bình thường, đồng thời có thể dẫn đến nguyên nhân tăng nguy cơ suy tim và tử vong trong vòng 18 tháng theo dõi.

Hiệu quả peptide với tim mạch

Xét nghiệm peptide lợi niệu cũng có liên quan đến một số chỉ số của chức năng tâm thu và tâm trường. Gần đây, người ta còn chứng minh rằng peptide lợi niệu có liên quan đến tình trạng suy tim tâm thu, mức độ rối loạn chức năng tâm thu, hở van hai lá và rối loạn chức năng thất phải.

Tìm hiểu thêm: Người bị bệnh lupus ban đỏ nên kiêng ăn gì?

Hormone ANP là gì? Tìm hiểu về Hormone APN 2
Xét nghiệm peptide lợi niệu cũng có liên quan đến một số chỉ số của chức năng tâm thu và tâm trường

Peptide lợi niệu cũng đã phản ánh áp lực làm đầy thất trái, tăng cao và áp lực mao mạch phổi khi được xâm lấn với độ chính xác cao. Ngược lại, độ nhạy cảm khá khiêm tốn, đặc biệt ở những bệnh nhân có chức năng tâm thu được bảo tồn và thể tích LV bình thường.

Ứng dụng peptide lợi niệu trong thực hành lâm sàng

Chẩn đoán bệnh

Định lượng peptide lợi niệu huyết tương giúp chẩn đoán và xác định suy tim, nhất là ở những người có dấu hiệu như: Mệt mỏi, khó thở, nặng ngực, tĩnh mạch cổ nổi, tiểu ít, phù ngoại biên,…). Ngoài ra còn ứng dụng trong thay đổi điện tâm đồ, bóng tim to trên chụp X quang,…

Hormone ANP là gì? Tìm hiểu về Hormone APN 3

>>>>>Xem thêm: Nóng bụng cảnh báo bệnh gì? Cách điều trị nóng bụng

Định lượng peptide lợi niệu huyết tương giúp chẩn đoán và xác định suy tim

Hơn nữa, định lượng peptide lợi niệu trong huyết tương còn giúp chẩn đoán suy tim tâm trương. Đặc biệt, nồng độ BNP huyết tương tăng trong phì đại thất trái, tim to, rung nhĩ, nhồi máu cơ tim cùng hội chứng động mạch vành cấp.

Trong trường hợp bệnh nhân cảm thấy khó thở, định lượng peptide lợi niệu huyết tương cho phép phân biệt khó thở do suy tim (peptide lợi niệu cao) hay khó thở do bệnh phế quản (peptide lợi niệu bình thường).

Theo dõi và điều trị

Định lượng peptide lợi niệu trong huyết tương cho phép tối ưu hoá hiệu quả điều trị bệnh suy tim thuyên giảm khi các triệu chứng lâm sàng giảm xuống. Có thể thấy, các thuốc lợi tiểu, dẫn xuất của nitrate, aldactone, thuốc ức chế men chuyển và thuốc ức chế thụ thể có khả năng làm giảm nồng độ peptide lợi niệu huyết tương (trừ digoxin). Ngược lại, ở bệnh nhân tăng huyết áp thì thuốc chẹn bêta giao cảm làm gia tăng nồng độ peptide lợi niệu.

Tiên lượng bệnh

Nồng độ peptide lợi niệu trong huyết tương mang đến ý nghĩa trên có thể dự đoán khoa học về khả năng phát triển bệnh suy tim hoặc nhồi máu cơ tim hiệu quả.

Bài viết trên Kenshin đã giúp bạn giải đáp thắc mắc hormone ANP là gì và tác dụng của từng loại. Hãy tham khảo thêm ý kiến của các chuyên gia nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào về xét nghiệm hoặc tình trạng bệnh nhé.

Thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, vui lòng liên hệ với Bác sĩ, Dược sĩ hoặc chuyên viên y tế để được tư vấn cụ thể

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *